Giải mã tại sao Hoaky giết Tổng thống Ngô Đình Diệm - chúng ta đã sống theo luận điệu tuyên truy
PHGV - Diễn Đàn (2015-11-01)
Giác Hạnh
-------
--------
Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
QUỐC HỘI LẬP HIẾN Chung quyết trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 Điều 1 Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân. Điều 7 Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp. Điều 8 Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc. Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng. Điều 23 Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định. Công chức không có quyền đình công. Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể. _______________________________ HP HK: Free and Independent States and the pursuit of Happiness https://www.ushistory.org/declaration/document/ HP VNDCCH 1959 https://www.moj.gov.vn/vbpq/... _Detail.aspx?ItemID=890 HP VNCH 1946 https://vi.wikipedia.org/wiki/... _C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_1946 _______________________________Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946
Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Quốc hội khóa I thông qua vào ngày 9 tháng 11 năm 1946.[1] Do chiến tranh Đông Dương bùng nổ ngay sau khi bản hiến pháp này được thông qua nên nó chưa được chính thức công bố và thi hành. Lịch sử Ủy ban dự thảo Hiến pháp được thành lập theo Sắc lệnh số 34-SL ngày 20 tháng 9 năm 1945 gồm có 7 thành viên: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy (tên của vua Bảo Đại sau khi thoái vị), Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) [2]. Bản dự án Hiến pháp đã được soạn thảo và công bố vào tháng 11 năm 1946. Ban dự thảo Hiến pháp (Tiểu ban Hiến pháp) được Quốc hội bầu ra ngày 2 tháng 3 năm 1946 gồm có 11 thành viên: Tôn Quang Phiệt,Trần Duy Hưng, Nguyễn Thị Thục Viên, Đỗ Đức Dục (Dân chủ Đảng), Cù Huy Cận (Dân chủ Đảng), Nguyễn Đình Thi (Việt Minh),Huỳnh Bá Nhung, Trần Tấn Thọ, Nguyễn Cao Hách, Đào Hữu Dương, Phạm Gia Đỗ (4 vị thuộc Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội và Việt Nam Quốc dân Đảng). Ban này tiếp tục nghiên cứu dự thảo hiến pháp. Trong phiên họp ngày 29 tháng 10 năm 1946, Tiểu ban Hiến pháp được mở rộng thêm 10 đại biểu đại diện cho các nhóm, các vùng và đồng bào thiểu số để tu chỉnh dự thảo hiến pháp và trình ra Quốc hội ngày 2 tháng 11 năm 1946 để Quốc hội thảo luận, sửa chữa và thông qua. Bản hiến pháp được Quốc hội thông qua vào ngày 9 tháng 11 năm 1946, tại kỳ họp thứ 2, với 240 phiếu tán thành trên tổng số 242 phiếu.[3] Sau đó, Quốc hội ra nghị quyết giao nhiệm vụ cho Ban Thường trực Quốc hội "cùng với chính phủ ban bố và thi hành hiến pháp khi có điều kiện", "trong thời kì chưa thi hành được Hiến pháp thì chính phủ phải dựa vào những nguyên tắc đã định trong hiến pháp để ban hành các sắc luật". Tuy nhiên, Kháng chiến chống Pháp bùng nổ vào ngày 19 tháng 12 năm 1946 đã làm việc tổ chức tổng tuyển cử bầu Nghị viện nhân dân không có điều kiện để thực hiện. Do tình hình chiến tranh, Hiến pháp 1946 chưa được chính thức công bố[1] và chưa từng có hiệu lực về phương diện pháp lý.[4] Nội dung Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 là một bản hiến văn ngắn, bao gồm lời nói đầu và 7 chương, 70 điều. Lời nói đầu khẳng định ba nguyên tắc cơ bản của bản Hiến pháp này: "Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo. "Đảm bảo các quyền tự do dân chủ. "Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân." Chương I quy định chính thể của Việt Nam là Dân chủ Cộng hòa Chương II quy định nghĩa vụ và quyền lợi công dân, xác nhận sự bình đẳng về mọi phương diện của tất cả công dân Việt Nam trước pháp luật. Chương III quy định về nghị viện nhân dân. Chương IV quy định về chính phủ - cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc Chương V quy định phương diện hành chính, bộ, tỉnh, huyện, xã; quy định về cơ quan hành chính (ủy ban hành chính và hội đồng nhân dân) các cấp. Chương VI quy định về cơ quan tư pháp bao gồm toà án tối cao, các toà án phúc thẩm, các toà án đệ nhị cấp và sơ cấp. Chương VII quy định về việc sửa đổi Hiến pháp, trong đó có quyền phúc quyết hiến pháp của dân. So sánh Quy định về việc sửa đổi Hiến pháp (Chương VII) không được kế thừa trong các bản hiến pháp sau này của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.[3] Vai trò và quyền lực của chủ tịch nước như được quy định trong Hiến pháp 1946 rất lớn: Chủ tịch nước không chịu trách nhiệm trước Quốc hội, không thể bị khởi tố trừ tội phản quốc, có thể từ chối công bố các đạo luật do Quốc hội ban hành và yêu cầu Quốc hội thảo luận lại. Đặc điểm này gần với quy định về quyền lực của tổng thống trong Hiến pháp nước Mỹ. Trong các bản hiến văn theo mô hình Xô Viết sau này của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chủ tịch nước chỉ có chức năng nghi lễ mà ít mang tính quyền lực.[4] Hiến pháp 1946 công nhận các quyền cơ bản của công dân như quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền khiếu nại tố cáo... Ở các bản Hiến pháp sửa đổi năm 1959 và 1980, các quyền này không được quy định rõ ràng hoặc không đầy đủ. Đến bản Hiến pháp sửa đổi năm 1992 lại có nhiều điểm tương tự Hiến pháp 1946.[5] Điều 10 bản Hiến pháp 1946 quy định rõ ràng các quyền tự do cá nhân: "Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài". Đây là những quyền tự do bị hạn chế trong các bản hiến pháp sau này. So sánh với hiến pháp của các quốc gia khác, tác giả Phạm Duy Nghĩa cho rằng nội dung Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa "không hề có bóng dáng của Hiến pháp Liên Xô 1936", có "thái độ thượng tôn và tiếp nối truyền thống tư pháp đã có từ thời thực dân", và chứa đựng những tư tưởng dân chủ hơn hẳn hệ thống luật pháp của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.[4] Đánh giá Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng[6] cho rằng Hiến pháp 1946 phản ánh đúng tinh thần pháp quyền - "những nguyên tắc và phương thức tổ chức quyền lực sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ". Điều đó thể hiện ở 5 điểm[6]: Hiến pháp đã được đặt cao hơn nhà nước. Nghị viện nhân dân không thể tự mình sửa đổi Hiến pháp. Mọi sự sửa đổi, bổ sung đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70 Hiến pháp 1946). Các quyền của người dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thay vì được nhà nước ghi nhận và bảo đảm. Quyền năng giữa các cơ quan nhà nước được phân chia khá rõ và nhiều cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau đã được thiết kế. Quyền năng giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương cũng được phân chia rất rõ. Vai trò độc lập xét xử của toà án được bảo đảm. Các cơ quan khác không có quyền can thiệp. Ông đánh giá "Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp dân chủ, tiến bộ không kém bất kỳ bản hiến pháp nào trên thế giới".[3] Giáo sư Trần Ngọc Đường, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội (năm 2006), cho rằng các điểm nổi bật của Hiến pháp 1946 là: Tư tưởng của Hồ Chí Minh về nền lập hiến Việt Nam; Tư tưởng quyền lực thuộc về nhân dân; Tư tưởng pháp quyền; Những quy định về quyền con người và đảm bảo quyền công dân; Cơ chế bảo hiến; Sửa đổi hiến pháp. Theo ông, việc nghiên cứu về "quyền phúc quyết" hiến pháp của người dân trong Điều 70 Hiến pháp 1946 rất có ý nghĩa trong hoàn cảnh xây dựng Luật trưng cầu dân ý của Việt Nam.[3] Giáo sư Phạm Duy Nghĩa, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng Hiến pháp năm 1946 là "bản hiến văn dân chủ vào loại bậc nhất Đông Nam Châu Á lúc bấy giờ" và "đã có thể là một bản khế ước tốt để ràng buộc và khống chế công bộc với lợi ích của ông chủ nhân dân". Ông tỏ ý tiếc rằng sáu mươi năm sau Việt Nam "đã không có cơ hội đi xa hơn trong chủ nghĩa lập hiến." [4] Theo ông, Hiến pháp 1946 vẫn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của Việt Nam và "vẫn còn nguyên giá trị cho một xã hội dân chủ pháp quyền ở Việt Nam".[5] Tiến sĩ Nguyễn Minh Tuấn, Đại học Saarland, Cộng hòa liên bang Đức cho rằng: Điểm khác biệt và là nét độc đáo của Hiến pháp 1946 so với các bản Hiến pháp sau này là bản Hiến pháp này không theo bất kỳ một nguyên mẫu Hiến pháp nào có sẵn trong lịch sử. Sau khi cách mạng Tháng mười Nga năm 1917 thành công, có một bản Hiến pháp rất nổi tiếng và có hiệu lực ở Liên Xô thời điểm đó là Hiến pháp năm 1936, nhưng chủ tịch Hồ Chí Minh - một người chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng không lấy bản Hiến pháp này là khuôn mẫu khi xây dựng Hiến pháp 1946. Ông cho rằng thực tế Hiến pháp 1946 đã có những yếu tố nhất định thể hiện cơ chế phân công quyền lực, kiểm soát và cân bằng quyền lực.[7] Đây là bản hiến pháp được soạn thảo theo tinh thần "tam quyền phân lập": lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ) và tư pháp (Tòa án) với ảnh hưởng của Hiến pháp Hoa Kỳ, Pháp, và hiến pháp của các nước cộng hòa khác.[cần dẫn nguồn] Điều 1 của Hiến pháp 1946 ghi rõ: "Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa". Nó không hề có một điều khoản nào quy định là một đảng phái nào hay một ý thức hệ nào là độc tôn và độc quyền lãnh đạo đất nước như các bản hiến pháp sau này của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà hay Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.[8] Tuy nhiên những giá trị của bản Hiến pháp 1946 không được vận dụng trong thực tế mà chỉ có giá trị về mặt chính trị. Bởi vì nhiều lý do khiến cho Hiến pháp 1946 không được thực thi. _______________________________ Vào 02:48 Ngày 31 tháng 10 năm 2015, Tran Quang Dieu <tranquangdieu@hotmail.com> đã viết: Đúng! Không phải là nan đề, mà là điều đã trở thành rất dễ hiểu: Pháp xâm lăng Việt Nam, "Vấn đề là Thiên Chúa giáo". Cuộc chiến tranh Việt Nam sau năm 1954, thay vì thống nhất đất nước trong độc lập tự chủ và hòa bình? Bọn giáo phiệt ngoại bang đã cấu kết với ngoại cường, tài phiệt. .. gây nên cảnh tang tóc cho con nhà Việt Nam. Chính sử gia phương tây đã điểm mặt cuộc "thánh chiến" man rợ theo "kiểu mẫu thời đại". Hỏi và cho biết rằng: "Vietnam Why Did We Go?" như thế này đây: https://arcticbeacon.com/books/Avro_Manhatten_-_Vietnam_Why_Did_We_Go.pdf !Trần Quang Diệu
_______________________________ Date: Sat, 31 Oct 2015 02:17:08 -0700 Subject: Toan dân quyết tâm nhận diện tội ác chủ nghĩa thực dân Công giáo From: giachanh2014@gmail.com Theo tiến trình khám phá những nan đề. Một khi chúng ta nhận ra nan đề, và có giải pháp, thì không thể dừng lại. Kính thưa đồng bào. Quốc nạn có xãy ra theo thời cuộc. Và nếu chúng ta không nhận ra tính liên tiếp xãy ra, lý do, vấn đề, thì chúng ta bị bế tắt. Điển hình. Chúng ta sống chỉ thấy và tôn trọng thời cuộc biến loạn 1954 đến 1975 = 21 năm. 21 năm đó, chúng ta đã tốn 3-15 năm bị hậu quả tù đài do cái nhân gây ra bởi chế độ Diệm. 40 năm sống trong chia rẽ hận thù vì quyết định sai lầm chia đôi đất nước vĩnh viễn của bọn Công giáo. Rồi đưa đến tàn cuộc là sự chiến thắng của phe Hồ Chí Minh. Trong 40 năm sau chiến tranh. Chúng ta vẫn sống trong tư duy thời cuộc 1954-1975. Nhưng chúng ta không nhìn đến giai đoạn thời cuộc 1954 trở về trước và sau 1975. TẠI SAO? TẠI SAO CHÚNG TA: 1. chỉ giành 40 năm sống chết chỉ để thấy thời cuộc 1954 đến 1975? Tôi có câu trả lời ngay. Tại vì chúng ta sống theo luận điệu tuyên truyền của chủ nghĩa tàn độc Công giáo. 2. không nhìn ra nguyên do tại sao CSBV đánh miền Nam? Tại vì chúng ta hoàn toàn bị bưng bít bởi luận điệu tuyên truyền của bọn Công giáo. 1954 là giai đoạn đúng ra VN có thống nhất vĩnh viễn. Chính bọn Công giáo tay sai Pháp chạy vào Nam. Tiếp tục gây ra nợ máu, đưa đến hai phe miền Bắc tấn công miền Nam vì Diệm phản bội HĐ Geneva để hình thành nước VNCH chỉ để bảo vệ 1 triệu mạng sống người Công giáo, bất chấp nền hòa bình của toàn dân tộc. Và phe miền Nam bị bọn Công giáo xem là kẻ thù phải tiêu diệt vì họ không phải Công giáo. Bị bọn chế độ VNCH 1 đặt vào vai cấp bị trị, bị tiêu diệt, CS và phải bị tiêu trừ. Tôi đề nghị các vị thật tâm. Vì dân tộc. Phải biết vai trò trách nhiệm của chính mình, sống lại, truy nã lại nan đề đưa đến cuộc chiến 1954-1975 thay vì chỉ đổ hết tội cho CSVN. Chúng ta phải biết nhận ra hung thủ chính là bọn Công giáo bởi nó mà dân tộc bị rơi vào cuộc chiến tranh huynh đệ tàn sát nhau.Giác Hạnh
__________________________________ 2015-10-31 1:58 GMT-07:00 thanh vuong vuonghoithanh2@gmail.com [chinhnghia] : Đúng là những trò giểu, hề của những gã già vô công rỗi nghề! Dù được sống tại một xứ sở mà ý tưởng phục vụ, chính sách quốc gia cũng như những khả năng và tư cách của vị lãnh đạo, hằng giờ được khảo sát, đánh giá gắt gao để có thể mang lại lợi ích thiết thực cho XH; Nhóm nô, đầu óc già nua Hoài Ngô, được sự hổ trợ của nhà Thờ Kito, vẫn chỉ quanh quẩn bên chủ đề xác chết của 2 gã Diệm, Nhu, con người bị nhiều chỉ trích và đã cũ trên 1/2 thế kỷ, để tru lên những tiếng thảm thương với vở hài Tế lễ hằng năm. Thật là trò hề chính trị? Sự kiện này đã chứng minh cho những bộ mặt già nua, thất nghiệp, dáng dấp, đầu óc đã chậm lụt và thua kém, bản thân ai không đủ khả năng để hội nhập hay hiểu nổi thế giới văn minh chung quanh mình, người ta đã và đang làm gì! Người dân Việt Nam xưa nay và có lẻ sẽ mãi mãi là nạn nhân của mọi chế độ chính trị; vì sự thật quá hiển nhiên là, người ta không có trình độ để biết nhìn ra cái mới cần thiết phải làm, mà họ chỉ biết nhai lại, làm theo những ý giật dây của các đảng phái chính trị lưu manh hoặc từ sự giật dây, khích động phá hoại của các Nhà Thờ KiTo. Không hô khẩu hiệu ở trong nước, thì bầy người này cũng chỉ quen làm trò ôm cờ, đi diễu, làm trò hô khẩu hiệu RỔNG TOÉCH, theo mấy gã lưu manh kinh doanh Tôn giáo của nhà Thờ. Nhóm Hoài Ngô thay vì la lối ồn ào, tại sao có đủ chứng cớ, VÌ HÈN NHÁT HAY NGU DỐT, không dám kiện thẳng bọn MỸ, kẻ trực tiếp ra tay hãm hại 2 ông Diệm, Nhu và giết chết luôn cả nền Cọng Hoà tại miền Nam ? Thật là một bọn chỉ làm trò nham nhở, già nua, cằn cỗi về ý tưởng, mất tư cách và vô liêm sĩ! ________________________________ Vào 00:48 Ngày 08 tháng 10 năm 2015, Ts Hồng Lĩnh <honamtran5@gmail.com> đã viết: Có hai vấn đề: 1.- Tín lý là các đều phải tin và không thay đổi. Vì không chứng minh được. Giống như các nguyên lý bên khoa học thực nghiệm. Các nguyên lý ấy, tuy không chứng minh được, nhưng phải chấp nhận. Trên nguyên tắc: Phải tin hay phải chấp nhận không khác nhau. 2.- Cách diễn tả tín lý thay đổi theo tiến hóa của trí tuệ con người và tùy thời đại. 3.- Chẳng có vấn đề gì cả. 4.- Không bắt quàng vấn đề tín lý với cách diễn tả.Hồng Lĩnh
__________________________________ 2015-10-08 9:13 GMT+07:00 qtran <qtran@ec.rr.com>:Cả Đời Tôi Tìm Chúa
Trần Tiên Long
[SH- xin đọc https://sachhiem.net/TTL/TranTL58.php] 18-Dec-2014